Giải quyết tranh chấp hợp đồng ; TƯ VẤN PHÁP LUẬT - Các bên cũng có thể thỏa thuận công chứng Hợp đồng đặt cọc mua bán xe ô tô nếu số tiền đặt cọc lớn. Gửi email In trang. Hợp đồng đặt cọc. Xem thêm . Mẫu hợp đồng đặt cọc về việc thuê nhà. Thuê nhà là
Vợ chồng anh V. mỗi người làm một công ty khác nhau nhưng chỉ có một chiếc xe máy nên họ quyết định tích góp tiền mua một chiếc xe cũ để tiện việc đi lại. Báo Vĩnh Long online, Cơ quan của Đảng Bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Tiếng nói của đảng bộ và nhân dân Vĩnh Long.
Khi dọn đi khỏi ngôi nhà thuê, một nữ sinh viên ở Anh được yêu cầu phải trả lại nhà thật sạch sẽ. Thế rồi, chủ nhà cho rằng cô đã không làm đúng yêu cầu, do nhà chưa hoàn toàn sạch khi vẫn còn một vụn giấy trên sàn. Vì lý do này, chủ nhà nhất định không chịu trả lại hơn 6 triệu đồng tiền đặt
- Khoảng tiền thuê nhà trọ 1 tháng chấp nhận được là bao nhiêu? (Hãy cân nhắc số tiền "ngân hàng gia đình" chu cấp hàng tháng để xác định cho mình khoản tiền thuê trọ ở mức hợp lí nha!) Thuê nhà trọ nhỏ đặt cọc 1 tháng, thuê nhà nguyên căn đặt cọc trước
Phải trả đủ tiền rồi sau một đến hai ngày thì mới giao sổ,…. 8 rủi ro thường gặp cần biết khi mua bán nhà đất. Rủi ro thường gặp #3. Giấy tờ giả. -Có thể chủ nhà không biết: người thuê làm giấy tờ giả sau đó bán nhà cho bạn, hay nhận cọc của nhiều người
cash. Tranh chấp về tiền đặt cọc tiền thuê nhà Ngày đăng 30/01/2015 Xin hỏi Luật sư tư vấn về trường hợp thực tế như sau A thuê phòng của B chủ nhà, địa điểm thuê tại Bình Thạnh. Hai bên ký kết hợp đồng thuê nhà, thời hạn thuê là 1 năm từ 06/2013 - 05/2014. Theo hợp đồng thì A phải đặt cọc cho B số tiền của 1 tháng tiền thuê nhà trong suốt thời gian thuê tuy nhiên hợp đồng không ghi rõ điều khoản này mà chỉ ghi đặt cọc 1 tháng tiền thuê nhà. Ngoài ra, trên hợp đồng cũng không có điều khoản về việc xử lý tiền đặt cọc như thế nào cấn trừ vào tháng cuối cùng/trả lại cho bên thuê khi hết thời hạn thuê. Đến 05/2014 thì hết hạn hợp đồng, 2 bên thỏa thuận tiếp tục hợp đồng thỏa thuận bằng miệng, không làm phụ lục gia hạn thời hạn thuê. Và đến 01/2015 thì 2 bên chấm dứt hợp đồng, bên A đã thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà tháng 01/2015 nhưng bên B không trả lại tiền đặt cọc cho bên A với lý do là tiền cọc đã cấn trừ vào tháng cuối cùng. Việc thanh toán tiền nhà hàng tháng được trả bằng tiền mặt không có xác nhận là bên B đã nhận đủ tiền/bên A đã thanh toán đầy đủ. Trong trường hợp trên thì bên A nhận lại tiền đặt cọc hay không? Và phải tiến hành những thủ tục gì? 7486 Cảm ơn Phản hồi Chủ đề đang được đánh giá Click vào bảng để xem hiển thị đầy đủ thông tin Bạn vui lòng đăng nhập hoặc Đăng ký tại đây để tham gia thảo luận
Các vấn đề về tranh chấp hợp đồng thuê nhà vẫn luôn nhận được sự quan tâm từ phía khách hàng . Nhà cửa là một loại tài sản đặc biệt có giá trị tranh chấp lớn và việc giải quyết tranh chấp cũng rất phức tạp. Mỗi tranh chấp hợp đồng mua bán nhà đất đều có những khía cạnh khác nhau và từ đó phát sinh nhiều thông tin đắt giá. Hôm nay để quý vị có thể hiểu rõ hơn các vấn đề pháp lý xung quanh tranh chấp hợp đồng thuê nhà chúng tôi xin cung cấp một Bản án thực tế sau đây. Tóm tắt Bản án Công ty khởi kiện ông X và bà Y về việc yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê nhà và yêu cầu trả lại tiền đặt cọc thuê nhà. Bà F, giám đốc chi nhánh của Công ty trình bày Ngày 20/11/2015 Công ty TNHH A, Chi nhánh L ký hợp đồng thuê nhà với ông X và Y có địa chỉ tại Tổ H, phường I, thị xã K, tỉnh L.. Hai bên thống nhất ông X, bà Y cho Chi nhánh L – Công ty TNHH A thuê tầng 2 căn nhà của ông bà làm sân gôn điện tử. Tầng 1 của căn nhà ông bà sử dụng kinh doanh ăn uống nhà hàng XX. Đối tượng của hợp đồng là toàn bộ tầng 2 của căn nhà có diện tích 320 m2 tại địa điểm và cửa ra vào tầng 1, thời hạn thuê 2 năm, giá thuê đ/tháng, trả tiền thuê nhà theo định kỳ 6 tháng/lần và trả vào 10 ngày đầu tiên của tháng cuối của kỳ trước, số tiền đặt cọc trước là Chi nhánh của Công ty đã trả tiền thuê nhà cho ông X, bà Y kỳ đầu tiên số tiền và tiến hành hoạt động kinh doanh, 2 tháng đầu thì quan hệ giữa 2 bên tốt đẹp, hai tháng tiếp theo do kinh doanh của ông X, bà Y có thêm giải trí Karaooke cho khách hàng ăn uống nên gây ầm ĩ, dẫn đến khách đến chơi gôn điện tử phàn nàn, thậm chí không quay lại, gây tổn thất cho Công ty. Từ ngày 9/4/2016 ông X, bà Y tiến hành sửa chữa tầng 1 của căn nhà cho thuê mà không hề thông báo cho Công ty biết. Trong quá trình thi công đã tháo biển quảng cáo của Công ty lắp đặt trên tường của tầng 2 nhà cho thuê để xuống đất mà không có bất kỳ giải thích thời gian gần 1 tháng tiếp theo do việc thi công nên đã gây cản trở nghiêm trọng cho việc khai thác tầng 2 của căn nhà, dàn giáo xây dựng, các đống vật liệu lấn chiếm, cản lối đi lên tầng 2. Ngày 22/4/2016 tại nhà hàng XX tầng 1 căn nhà cho thuê Công ty có buổi làm việc với ông X, bà Y trên tinh thần hợp tác, giải quyết những vướng mắc. Nhưng ông X, bà Y không hợp tác, tôn trọng, mà còn xúc phạm đến Công ty. Hồi 15 giờ ngày 23/4/2016 phía Công ty đã lập 01 “biên bản làm việc” nhằm xác định những trở ngại của việc thực hiện hợp đồng, nhưng người đại diện của ông X bà Y không nhất trí với lý do không đúng với trình tự lập biên bản và hình thức biên bản. Ngày 08/5/2016 Công ty gửi “thông báo về việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà” cho ông X, bà Y. Ngày 16/5/2016 ông X, bà Y phản đối “Thông báo về việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà”. Từ ngày 20/5/2016 đến nay quan hệ giữa 2 bên hết sức căng thẳng, Công ty đã tạm ngừng kinh doanh và có nguyện vọng chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn. Công ty TNHH A khởi kiện ra Tòa án yêu cầu 1. Được chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn do ông X, bà Y bên A đã vi phạm Điều 4 của Hợp đồng. 2. Yêu cầu bên A ông X, bà Y trả lại số tiền đặt cọc theo hợp đồng là cho Công ty bên B. Nếu không được di chuyển, Công ty yêu cầu bên cho thuê bồi thường thiệt hại tiếp theo do không có phương tiện để kinh doanh. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút yêu cầu 3 và 4. Tòa án sơ thẩm đã tuyên xử đối với tranh chấp hợp đồng thuê nhà này như sau Tòa sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử và quyết định Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà. Bác yêu cầu của công ty TNHH A về việc trả lại số tiền đặt cọc theo hợp đồng là hai mươi lăm triệu đồng. Ông X và bà Y được quyền sở hữu, sử dụng số tiền đặt cọc là Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông X và bà Y. Buộc Công ty TNHH A, chi nhánh công ty TNHH A tại L, có trách nhiệm thanh toán cho ông X và bà Y khoản tiền thuê nhà 01 tháng là Ghi nhận sự thỏa thuận giữa Công ty TNHH A, Chi nhánh Công ty TNHH A tại L, có trách nhiệm thanh toán trả ông X và bà Y khoản tiền phí dịch vụ bao gồm tiền điện, tiền nước, tiền môi trường là Công ty TNHH A, Chi nhánh Công ty TNHH A tại L, người đại diện theo pháp luật bà Nguyên Thị F, có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty, theo biên bản ngày 10/1/2017 ra khỏi địa điểm thuê nhà số tài sản trên hiện ông X, bà Y đang quản lý theo biên bản ngày 10/1/2017 do Tòa án lập. Ông X và bà Y có trách nhiệm trả lại toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty còn để lại tại nhà thuê của ông bà theo biên bản ngày 10/1/2017. Công ty TNHH A, Chi nhánh Công ty TNHH A tại L có trách nhiệm tháo dỡ, vận chuyển và trả lại mặt bằng của tầng 2 ngôi nhà đã thuê của ông X, bà Y. Nhận định của Tòa Phúc thẩm Đến tháng thứ 5, từ ngày 09/4/2016 ông X, bà Y tiến hành sửa chữa tầng 1 của căn nhà cho thuê mà không hề thông báo cho Công ty biết. Trong quá trình thi công ông X, bà Y cho tháo biển quảng cáo của Công ty lắp trên tường tầng hai của căn nhà cho thuê mà Công ty có quyền sử dụng theo hợp đồng để xuống đất, không có bất cứ sự giải thích gần 01 tháng tiếp theo ông X, bà Y cho thợ thi công gây cản trở nghiêm trọng cho việc khai thác tầng 2 của căn nhà. Hàng ngày nhân viên và khách hàng của Công ty phải bước qua các đống vật liệu xây dựng, thậm trí phải chui qua dàn giáo xây dựng để vào địa điểm kinh doanh. Công ty đã nhiều lần đề nghị ông X, bà Y phải thu xếp dành lối đi lên tầng 2 nhưng không được ông X, bà Y thực hiện vì thế mà Công ty đã phải chụp một số bức ảnh để làm căn cứ có bản ảnh gửi kèm theo hồ sơ tranh chấp hợp đồng thuê nhà. Hậu quả từ ngày 09/4/2016 đến nay Chi nhánh L – Công ty TNHH A không thực hiện được hoạt động kinh doanh, hầu hết khách hàng truyền thống không trở lại dân đến Công ty có nguy cơ bị phá sản, vì vậy đến cuối tháng 4 năm 2016 Công ty không có khả năng nộp tiền thuê nhà của kỳ thứ hai Công ty đã gửi thông báo về việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà cho ông X, bà Y. Phía người đại diện của bị đơn bà M và bà N thừa nhận Ngày 09/4/2016 ông X, bà Y có tiến hành sửa chữa tầng 1 của ngôi nhà mà tầng 2 đã cho Chi nhánh công ty TNHH A thuê. Nhưng cho rằng việc sửa chữa đó chỉ trong vài ngày chứ không phải liên tục và việc sửa chữa đó không làm ảnh hưởng gì đến việc đi lại và kinh doanh của Công ty. Các bản ảnh phía nguyên đơn đưa ra đại diện bị đơn thừa nhận nhưng cho rằng các bản ảnh đó chỉ chứng minh ở một thời điểm nhất định, không phản ánh được cả quá trình. Như vậy có việc sửa chữa nhà của bên cho thuê đã làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của bên thuê nhà là Công ty TNHH A. Công ty cũng đã làm văn bản thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng, ngày 08/5/2016 thời hạn báo trước là 30, thông báo này cũng đã gửi đến ông X, bà Y. Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty xác định việc Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng là do lỗi của bên cho thuê nhà là ông X, bà Y. Tuy nhiên không buộc ông X, bà Y phải trả lại cho Công ty tiền đặt cọc là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty, vì số tiền đặt cọc do Công ty đặt cho bên cho thuê nhà và hai bên thỏa thuận, bên nào có lỗi phải chịu trách nhiệm. Do vậy chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty, buộc ông X bà Y phải trả lại tiền đặt cọc Bác kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Vân về việc yêu cầu Công ty phải bồi thường cho ông X, bà Y do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng của Công ty trái pháp luật. Quyết định của Tòa Phúc thẩm Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A. Chấm dứt hợp đồng thuê nhà giữa Công ty TNHH A, người đại diện theo pháp luật bà Nguyễn Thị F bên thuê nhà với ông X và bà F ký kết ngày 20 tháng 11 năm 2015. Buộc ông X và bà Y phải trả lại số tiền đặt cọc theo hợp đồng là đ cho Công ty TNHH A người đại diện theo pháp luật bà Nguyễn Thị E Chuyên viên Hoài Linh Tư vấn mua bán nhà đất Công ty Luật Vạn Tín chuyên cung cấp dịch vụ sau Thủ tục mua bán nhà đất, thủ tục hoàn công; tranh chấp thừa kế thủ tục xin giấy phép xây dựng; thủ tục chia di sản thừa kế, thủ tục trước bạ, đăng bộ, đăng ký nhà đất; thủ tục vay thế chấp nhà đất; hợp thức hóa nhà đất, thủ tục làm sổ hồng khi mua bán bằng giấy tay; mua bán qua người ủy quyền; mua bán nhà đất đang thế chấp tại ngân hàng;tra Tư vấn điều kiện mua bán nhà đất, điều kiện nhận chuyển nhượng nhà đất, nhận chuyển nhượng căn hộ; chuyển nhượng đất …. Tư vấn chiến lược, tham gia soạn thảo Hợp đồng đặt cọc, Hợp đồng chuyển nhượng, Hợp đồng mua bán, Hợp đồng góp vốn, Hợp đồng ủy quyền Với đội ngũ Luật sư giỏi tại tphcm sẽ đại diện tham gia tố tụng tại Tòa án tất cả các tranh chấp liên quan đến nhà đất như tranh chấp tranh chấp thừa kế, hợp đồng mua bán nhà đất; , tranh chấp hợp đồng góp vốn, tranh chấp lối đi chung; tranh chấp tường chung;tranh chấp hợp đồng thuê nhà… LIÊN HỆ Để đội ngũ Luật sư nhà đất uy tín tphcm chúng tôi có cơ hội tư vấn, hỗ trợ giao dịch nhà đất thành công, tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại và đạt hiệu quả cao. Quý khách vui lòng liên hệ Luật sư Phạm Thị Nhàn ĐT Công ty Luật TNHH Vạn Tín ĐT website Số 7 Đường số 14, Khu Đô Thị Mới Him Lam, phường Tân Hưng, Quận 7, Chí Minh Fanpage Facebook Website
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG BẢN ÁN 36/2021/DS-ST NGÀY 26/10/2021 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC THUÊ NHÀTrong ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm canh khai vụ án thụ lý số 31/2021/TLST-DS ngày 24/03/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc thuê nhà" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐXXST-DS ngày 05/08/2021 giữa các đương sự- Nguyên đơn Anh Ngô Văn L, sinh năm 2000; địa chỉ K114/25 đường L, quận T, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ liên hệ Thôn 1, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn xin xét xử vắng Bị đơn Chị Phạm Hà Mỹ H, sinh năm 1990; địa chỉ Số 22 đường Phần L, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan+ Anh Nguyễn Văn Việt H, sinh năm 2000; địa chỉ K114/25 đường L, quận T, thành phố Đà chỉ liên hệ Thôn 1, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Đắk. Vắng mặt không có lý do.+ Anh Nguyễn Trọng Phương N, sinh năm 2000; địa chỉ K114/25 đường L Độ, quận T, thành phố Đà chỉ liên hệ Thôn KrongA, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Đắk Vắng mặt không có lý do.+ Anh Huỳnh Ngọc H, sinh năm 2000; địa chỉ K114/25 đường L, quận T, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên hệ Thôn 4, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Đắk Vắng mặt không có lý DUNG VỤ ÁN* Theo đơn khởi kiện và tại các bản tự khai nguyên đơn anh Ngô Văn L trình Vào ngày 03/07/2020 chị Phạm Hà Mỹ H và anh Ngô Văn L có ký giấy đặt cọc cho thuê nhà để anh L được thuê nhà tại địa chỉ 108/25 đường Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, giá thuê nhà mỗi tháng là Bốn triệu năm trăm ngàn đồng, hai bên cam kết đến 11 giờ 30 phút ngày 10/7/2020 sẽ tiến hành ký hợp đồng thuê nhà chính thức, ngoài ra còn cam kết đến ngày ký hợp đồng chính thức bên thuê nhà không thuê sẽ mất tiền cọc, bên cho thuê nhà không cho thuê nhà sẽ bồi thường tiền gấp đôi tiền 10/7/2020 anh L và Chị H ký hợp đồng thuê nhà để anh L được thuê nhà tại địa chỉ 108/25 đường Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, giá thuê nhà mỗi tháng là Bốn triệu năm trăm ngàn đồng, thời gian thuê là 06 tháng kể từ ngày 10/7/2020, anh L phải thanh toán xong tiền thuê nhà 06 tháng với số tiền 08/12/2020 Chị H thông báo với anh L bằng thư tín điện tử sẽ dừng việc cho anh L thuê nhà vào ngày hết hạn của hợp đồng thuê nhà là ngày 10/1/ 07/1/2021 anh L và Chị H có hẹn gặp nhau tại địa chỉ 108/25 đường Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng vào ngày 10/1/2021 để Chị H trả lại cho anh L số tiền đặt cọc thuê nhà là đồng thời anh L giao trả lại nhà đang thuê cho Chị H, Chị H đã không đến để thanh toán tiền cọc cho anh L. Nhiều ngày sau đó anh L và Chị H đã trao đổi qua tin nhắn, anh L yêu cầu Chị H thanh toán lại số tiền cọc, Chị H đồng ý trả lại số tiền cọc nhưng Chị H đề nghị anh L cho chị thời gian để chị kiếm người có thuê lại nhà hoặc bán nhà. Anh L thấy Chị H cố tình không thanh toán nên ngày 19/1/2021 anh L đã kiện Chị H tại Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đề nghị Tòa án buộc chị Phạm Hà Mỹ H thanh toán lại số tiền cọc là Bốn triệu năm trăm ngàn đồng.Ngoài ra, trong bản khai anh L còn trình bày anh L chỉ là người đại diện để ký hợp đồng thuê nhà với Chị H, thực tế thuê nhà tại địa chỉ trên gồm có các anh Nguyễn Văn Việt H, anh Nguyễn Trọng Phương N và anh Huỳnh Ngọc H cùng thuê án nhân dân quận Thanh Khê đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhiều lần tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo hòa giải cho chị Phạm Hà Mỹ H và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng Chị H không có văn bản phản hồi và cũng như những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không có lý do theo giấy triệu tập của Tòa án, nên Tòa án khanh thể tiến hành hòa giải cho các bên đương sư phiên tòa lần thứ hai chị Phạm Hà Mỹ H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý ĐỊNH CỦA TÒA ÁNCăn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định[1] Về thủ tục tố tụngTranh chấp hợp đồng đặt cọc thuê nhà ngày 03/10/2020 giữa anh Ngô Văn L và chị Phạm Hà Mỹ H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử Chị H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không có lý do theo giấy triệu tập; thông báo của Toà án, Chị H không có ý kiến phản hồi đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không tham gia các phiên hoà giải nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải cho các đương sự Ngô Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Ngô Văn án nhân dân quận Thanh Khê đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị Phạm Hà Mỹ H và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng Chị H và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị Phạm Hà Mỹ H và những người có quyền lợi nghĩa vị liên quan.[2] Về nội dung vụ án Căn cứ vào giấy đặt cọc ngày 03/07/2020 giữa chị Phạm Hà Mỹ H và anh Ngô Văn L đã ký để anh L được thuê nhà tại địa chỉ 108/25 đường Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng với số tiền cọc là ngày 10/7/2020 anh L và Chị H đã ký hợp đồng thuê nhà để anh L được thuê nhà tại địa chỉ 108/25 đường Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng với giá thuê nhà hàng tháng là Bốn triệu năm trăm ngàn đồng, thời hạn thuê là 06 tháng kể ngày 10/7/2020, anh L phải thanh toán xong số tiền thuê 06 tháng với số tiền là 08/12/2020 Chị H thông báo với anh L sẽ chấm dứt việc cho anh L thuê nhà tại địa chỉ trên vào ngày hết hạn của hợp đồng là vào ngày 10/1/2021, và hẹn gặp tại địa chỉ 108/25 đường Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để Chị H trả lại cho anh L số tiền đặt cọc thuê nhà là đồng thời anh L giao trả lại nhà đang thuê cho Chị H, nhưng Chị H đã không đến và không trả lại tiền cọc cho anh L.[3] Tại phiên tòa sơ thẩm anh L có đơn xin vắng mặt nhưng yêu cầu chị Phạm Hà Mỹ H trả lại số tiền cọc là thì thấy hợp đồng đặt cọc ngày 03/10/2020 giữa anh L và Chị H về hình thức và nội dung phù hợp với quy đinh của pháp luật, là biện pháp để bảo đảm thực hiện hợp đồng thuê nhà ngày 10/7/2020 để anh L thuê nhà tại địa chỉ 108/25 đường Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng với giá thuê nhà mỗi tháng là thời hạn thuê là 06 tháng kể ngày 10/7/2020, anh L phải thanh toán đủ số tiền thuê nhà 06 tháng là Ngày 08/12/2020 Chị H đã thông báo cho anh L sẽ chấm dứt việc cho anh L thuê nhà khi hợp đồng hết hạn là ngày 10/1/2021, như vậy các bên đã thực hiện xong hợp đồng thuê nhà ngày 10/7/2020 không có tranh thời, các bên đã hẹn gặp nhau, để Chị H trả lại tiền cọc và anh L giao trả lại nhà, nhưng Chị H đã không thực hiện việc trả lại tiền cọc, Chị H cũng có nhiều tin nhắn gửi anh L cam kết sẽ trả lại tiền cọc cho anh L, nhưng Chị H cho rằng do chưa tìm được người thuê nhà và cũng chưa bán được nhà nên Chị H chưa có tiền trả lại cho anh L và xin anh L cho thêm thời nhận định trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận Chị H đã vi phạm hợp đồng đặt cọc mà các bên đã ký kết do vậy chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của anh Ngô Văn L buộc chị Phạm Hà Mỹ H phải trả lại cho anh Ngô Văn L số tiền đặt cọc là Bốn triệu năm trăm ngàn đồng, là có cơ sở phù hợp với quy định tại Điều 116 và Điều 328 Bộ luật dân sự 2015 [4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn chị Phạm Hà Mỹ H phải chịu án phí là Vì các lẽ trên;QUYẾT ĐỊNHCăn cứ các khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân cứ các Điều 116 và 328 Bộ luật dân cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;Tuyên xử 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc thuê nhà" của anh Ngô Văn L đối với chị Phạm Hà Mỹ chị Phạm Hà Mỹ H phải trả cho anh Ngô Văn L số tiền là Bốn triệu năm trăm ngàn đồng.Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền, thì người phải thi hành án phải chịu tiền lãi trên số tiền phải thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật, nếu không thỏa thuận được về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân Án phí Dân sự sơ thẩm Chị Phạm Hà Mỹ H phải chịu là Ba trăm ngàn đồng.Hoàn trả cho anh Ngô Văn L số tiền tạm ứng án phí là đã nộp theo biên lai thu số 9079 ngày 24/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết canh hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sựNguồn
Trong các giao dịch mua bán nhà ở nhằm đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như giao kết được thực hiện. Các bên đã thỏa thuận và lập hợp đồng đặt cọc. Thế nhưng, hiện nay việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà xảy ra vẫn rất phổ biến. Cùng Đo Vẽ Nhanh tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này qua bài viết dưới đây nhé. Đặt cọc là gì?Những dạng tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà phổ biếnThứ nhất Tranh chấp về mức phạt cọcThứ hai Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp Thứ ba Tranh chấp về cam kết của các bênPhương thức giải quyết Thương lượngHòa giảiKhởi kiện tại Tòa Đặt cọc là gì? Theo quy định tại điều 328 của Bộ luật dân sự 2015, đặt cọc là việc 1 bên sau đây gọi là bên đặt cọc giao cho bên kia gọi là bên nhận đặt cọc 1 khoản tiền, đá quý, kim khí quý hoặc vật có giá trị khác tài sản đặt cọc trong một khoảng thời gian nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng. Bản chất của việc đặt cọc chính là một quy định nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy khi mua nhà ở, đất hay thuê nhà,… hợp đồng đặt cọc được lập ra, việc đặt cọc bao nhiêu thông thường là do các bên thỏa thuận. Đặt cọc là việc bên đặt cọc giao cho bên nhận đặt cọc một khoản tiền, đá quý, kim khí quý hoặc vật có giá trị Trường hợp hợp đồng được giao kết và thực hiện, tài sản đặt cọc sẽ được hoàn trả cho bên đặt cọc hoặc trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Tuy nhiên, trường hợp 1 trong hai bên không thực hiện đúng, hoặc không thực hiện, dẫn tới tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, đất,… Nếu như các bên không thỏa thuận được thì bắt buộc phải có sự can thiệp của pháp luật. Hiện nay, theo Bộ luật dân sự 2015, hợp đồng đặt cọc mua bán nhà không bắt buộc phải lập thành văn bản. Cũng như không bắt buộc phải công chứng chứng thực theo quy định của Luật nhà ở năm 2014, Luật Đất đai 2013. Tuy nhiên, để tránh các tranh chấp hoặc rủi ro xảy ra thì các bên nên lập thành văn bản và công chứng chứng thực. Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà không bắt buộc phải công chứng, chứng thực Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà thường được thể hiện dưới những dạng như sau Thứ nhất Tranh chấp về mức phạt cọc Căn cứ vào khoản 2 điều 328 của Bộ luật dân sự 2015 nếu như các bên không có thỏa thuận khác về mức phạt cọc, thì được thực hiện như sau Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng, tài sản đặt cọc thường là tiền đặt cọc sẽ thuộc về bên nhận đặt cọc. Trường hợp bên nhận đặt cọc từ chối thực hiện hợp đồng thì phải có nghĩa vụ trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc phạt cọc. Mức phạt cọc có thể do hai bên thỏa thuận Nếu như các bên có thỏa thuận khác về mức phạt cọc như phạt gấp đôi, gấp ba lần tiền cọc thì thực hiện theo thỏa thuận đã ghi trên hợp đồng. Thứ hai Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp Đây chính là dạng tranh chấp nội dung điều khoản quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Thứ ba Tranh chấp về cam kết của các bên Khi đặt cọc, người sử dụng đất hay chủ sở hữu nhà ở sẽ cam kết tính pháp lý của quyền sử dụng đất, nhà ở. Nhà đất hiện không có tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, không bị thế chấp và còn trong thời hạn sử dụng đất. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp bên nhận đặt cọc lừa dối, không nói đúng sự thật, dẫn tới xảy ra các tranh chấp. Hợp đồng đặt cọc vô hiệu khi giả tạo Phương thức giải quyết Khi xảy ra tranh chấp chúng ta thường áp dụng ba cách giải quyết như sau Thương lượng Đây là biện pháp được nhà nước khuyến khích các bên thực hiện khi có tranh chấp xảy ra. Theo đó, các bên tự mình bàn bạc và tháo gỡ những bất đồng, mâu thuẫn. Thương lượng là cách giải quyết tranh chấp đơn giản, không mất nhiều thời gian, tiền bạc mà vẫn giữ được tình cảm đôi bên. Phương thức thương lượng được ưu tiên hàng đầu Hòa giải Là phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc có sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải nhằm hỗ trợ, thuyết phục và giải thích cho các bên. Bên thứ ba có thể là người am hiểu về luật pháp, có uy tin cao hoặc thông qua hòa giải viên cơ sở. Khởi kiện tại Tòa Đây là phương pháp giải quyết tranh chấp dựa trên thủ tục tố tụng dân sự thông qua tòa án. Kết quả giải quyết sẽ được đảm bảo thi hành án bởi cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, khi lựa chọn cách này, bạn sẽ phải nộp tiền tạm ứng phí, án phí, tốn nhiều thời gian và công sức. Quá trình khởi kiện phức tạp và tốn nhiều thời gian, công sức Có thể bạn cần biết Mẫu biên bản hòa giải tranh chấp đất đai chuẩn nhất 2022 Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quy định cụ thể Quy định pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai giữa anh em ruột Trên đây là toàn bộ thông tin liên quan tới tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà mà bạn có thể tham khảo. Mong rằng, bài viết đã giúp bạn nắm rõ được các quy định của pháp luật về đặt cọc và một số cách giải quyết khi phát sinh những tranh chấp. Phan Nguyên Việt sinh năm 1985 tại Phú Yên. Tốt nghiệp đại học bách khoa chuyên ngành trắc địa bản đồ thuộc khoa xây dựng niên khóa 2003- 2008. Tôi khởi nghiệp thương hiệu thuộc sở hữu công ty TNHH Hợp Nhất Bách Việt chuyên cung cấp dịch vụ đo đạc địa chính và khảo sát địa hình.
Ngay khi dịch Covid-19 gây ra những thiệt hại đầu tiên thì các luật gia cũng đã nhận ra nguy cơ tranh chấp dân sự sau đại dịch này rất lớn. Điển hình là các tranh chấp liên quan đến hợp đồng thuê nhà, khi mà nhiều cá nhân, doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán. Để hạn chế và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thuê tài sản. Luật sư tư vấn dân sự Công ty Luật chúng tôi sẽ hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản và một số điểm cần lưu ý khi giao kết hợp đồng thuê tài sản này. 1. Giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản bằng cách nào? Trước khi giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản, chúng tôi cần xác minh các nội dung sau + Xác minh tính pháp lý của hợp đồng thuê tài sản, xem xét đối chiếu lại toàn bộ chứng cứ do khách hàng cung cấp có đủ cơ sở pháp lý hay không. + Xác minh thông tin của Bên vi phạm hợp đồng thuê tài sản, nếu là tổ chức thì kiểm tra trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp về trình trạng hoạt động của doanh nghiệp, xác minh thông tin tại Sở kế hoạch và Đầu tư về thông tin của Doanh nghiệp đó. Nếu là cá nhân thì xác minh địa chỉ thường trú, chỗ ở hiện tại của họ. Qua quá trình xác minh hồ sơ nợ thấy hợp lệ và có căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp, Công ty Luật chúng tôi sẽ hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản thông qua thỏa thuận thương lượng. Công ty Luật chúng tôi sẽ hỗ trợ khách hàng soạn thông báo về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản, các tài liệu chứng cứ kèm theo, tổng hợp căn cứ pháp lý, phương án giải quyết và ấn định thời gian để giải quyết, thông tin liên hệ cần thiết khi cần trao đổi. Trong thời gian này nếu bên vi phạm hợp đồng thuê tài sản có thiện chí hợp tác thì sẽ giải quyết theo thỏa thuận hợp đồng và bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. Xem thêm Mẫu hợp đồng thuê tài sản 2. Khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản Ngược lại trong thời gian khách hàng thông báo về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản, mà người vi phạm hợp đồng không có thiện chí giải quyết tranh chấp thì chúng tôi sẽ tiến hành những thủ tục pháp lý cần thiết khởi kiện ra Toà án như sau + Làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản hoặc đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng thuê tài sản vô hiệu. + Soạn thảo thông báo khởi kiện gửi đến bên vi phạm hợp đồng; + Nộp đơn khởi kiện; + Làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để tránh bên vi phạm hợp đồng tẩu tán tài sản. + Tham gia vụ kiện, trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi của khách hàng ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm khi có giấy triệu tập của tòa án; + Hướng dẫn làm đơn yêu cầu thi hành án khi có bản án có hiệu lực pháp luật. + Khách hàng phải tự chi trả các chi phí cho vụ kiện như án phí, phí, lệ phí khác nếu có. + Trong giai đoạn này, chúng tôi sẽ cử Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại cơ quan tiến hành tố tụng. 3. Một số lưu ý khi giao kết hợp đồng thuê tài sản Như vậy, để hạn chế tranh chấp hợp đồng thuê tài sản. Các bạn cần lưu ý các vấn đề sau khi giao kết loại hợp đồng này như sau Hợp đồng cho thuê tài sản phải mô tả đúng với giấy chứng nhận quyền sở hữu Thứ nhất Trên thực tế có tồn tại tài sản như mô tả trong hợp đồng hay không; Thứ hai Tài sản đó phải thuộc quyền sở hữu/sử dụng hợp pháp của bên cho thuê, hoặc bên cho thuê có quyền được cho thuê tài sản đó. Thứ ba Tài sản cho thuê là tài sản chung hay tài sản riêng các trường hợp như tài sản đồng sở hữu, tài sản chung vợ/chồng, tài sản riêng do nhận tặng cho, nhận thừa kế Việc mô tả sai đối tượng có thể dẫn đến hậu quả là hợp đồng thuê tài sản sẽ bị vô hiệu nếu có tranh chấp xảy ra. Quy định về tình huống bất khả kháng Khi các bên giao kết hợp đồng thuê tài sản nhưng không quy định hoặc thiếu rõ ràng các tình huống bất khả kháng thì sẽ dẫn đến khả năng xảy ra tranh chấp sau này. Mặc dù Bộ luật Dân sự có đề cập đến vấn đề này, nếu có tranh chấp thì Tòa án có thể áp dụng để giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản, nhưng nếu hợp đồng có quy định chi tiết hóa thì việc giải quyết hậu quả của tình huống bất khả kháng sẽ dễ dàng hơn nhiều. Hoặc các bên có thể tự giải quyết thông qua thỏa thuận mà không đẩy vụ việc thành một tranh chấp, từ đó giảm thiểu được những thiệt hại không đáng có. Cho thuê tài sản đang thế chấp mà chưa được sự đồng ý của bên nhận thế chấp Việc thế chấp không ảnh hưởng đến quyền cho thuê tài sản được quy định tại khoản 6, Điều 321 Bộ luật Dân sự 2015 “6. Được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết về việc tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết.” Mặc dù vậy, hầu hết các hợp đồng thế chấp đều có điều khoản quy định giới hạn một số quyền của chủ tài sản sau khi đã thế chấp. Phổ biến nhất là các quyền cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, nhận đặt cọc … Vì vậy, nếu ký hợp đồng cho thuê tài sản mà không được sự đồng ý của bên nhận thế chấp thì hợp đồng cho thuê tài sản đó có thể bị tuyên bố vô hiệu. Đang cho thuê mà chủ nhà tự ý bán nhà Cần lưu ý đối với hợp đồng thuê tài sản có đối tượng là nhà ở. Đa phần người sở hữu nhà thường nghĩ rằng họ có quyền bán tài sản bất cứ khi nào mà không cần quan tâm hợp đồng cho thuê tài sản đã ký. Tuy nhiên, trong trường hợp này người thuê nhà có quyền lợi đặc biệt, đó là quyền ưu tiên mua lại nhà đang thuê. Được quy định tại khoản 1, Điều 127 Luật Nhà ở 2014 Bên thuê nhà ở sẽ được quyền ưu tiên mua nhà đang thuê nếu đã thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà cho bên cho thuê tính đến thời điểm bên cho thuê có thông báo về việc bán nhà cho thuê. Vì vậy, nếu chủ nhà muốn bán nhà cho người khác thì phải thực hiện theo đúng trình tự luật định để bảo đảm quyền lợi của người thuê nhà. Nếu chủ nhà không thực hiện đúng thì không thể ký hợp đồng bán nhà. Như vậy, trên đây Công ty Luật chúng tôi đã hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản và một số điểm cần lưu ý khi giao kết hợp đồng thuê tài sản. Để nhận được sự hỗ trợ KỊP THỜI − TẬN TÂM − TRÁCH NHIỆM từ Luật sư tư vấn đất đai và các Chuyên gia pháp lý tại Công ty Luật của chúng tôi, Quý Khách hàng hãy liên hệ với chúng tôi qua các cách thức sau Liên hệ qua Hotline 094 221 7878 – Ls Trần Trọng Hiếu Trưởng CN là người trực tiếp tư vấn; 096 267 4244 – Ls Trần Trọng Hiếu Trưởng CN là người trực tiếp tư vấn. Liên hệ trực tiếp tại địa chỉ – Số 15 đường 21, phường Bình An, Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh; – Số 60A đường 22, phường Phước Long B, Quận 9, Tp. Hồ Chí Minh. Liên hệ qua Zalo – Facebook Zalo 094 221 7878 – Facebook Saigon Law Office Liên hệ qua Email Saigonlaw68 Luatsutronghieu Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý Khách Hàng! >> Danh sách văn phòng luật sư của chúng tôi - Văn phòng luật sư Nhà Bè - Văn phòng luật sư Bình Chánh - Văn phòng luật sư Long Thành
tranh chấp tiền đặt cọc thuê nhà